Thứ Năm, ngày 10 tháng 4 năm 2014

Sếu đầu đỏ cũng bỏ Việt Nam sang Campuchia

"Riêng năm nay , tỉ lệ sếu giảm đột biến , thấp nhất trong 14 năm qua. Năm nay , phần lớn đàn sếu ở lại Campuchia chứ không về Việt Nam"

Cuối tháng 3/2014 , Hội Sếu quốc tế đã kiểm đếm sếu đầu đỏ đồng loạt tại Việt Nam và Campuchia. Nói về mục đích của việc này , TS Trần Triết , điều phối viên tiêu chuẩn Đông Nam Á - Hội Sếu quốc tế cho biết: "Hằng năm , vào cuối tháng 3 , Hội Sếu quốc tế tổ chức đếm sếu đầu đỏ đồng loạt tại các điểm có loài chim này để kiểm kê số lượng.


 Qua 14 năm theo dõi quần thể sếu đầu đỏ , tôi nhận thấy số lượng sếu tại Việt Nam giảm dần trong 5 năm gần đây. Riêng năm nay , tỉ lệ sếu giảm đột biến , thấp nhất trong 14 năm qua.


 Năm nay , phần lớn đàn sếu ở lại Campuchia chứ không về Việt Nam. Giáp với vùng Phú Mỹ ( Kiên Giang ) là chuye bảo tồn sếu Anlung Pring , tỉnh Kampot - Campuchia , dù diện tích nhỏ hơn rất nhiều nhưng do không có xáo trộn từ con người gây ra nên sếu sinh sống rất đông".







TS Trần Triết trong một chuyến tham gia đếm sếu
TS Trần Triết trong một chuyến tham gia đếm sếu

nguyên do của việc sếu không về Việt Nam , theo TS Trần Triết là do con người. Các vùng đất ngập nước là nơi sinh sống của sếu đã bị thu hẹp diện tích hoặc bị xáo trộn vì các hoạt động kinh tế.


Cụ thể , vùng Hà Tiên - Kiên Lương ( Kiên Giang ) mất đi phần diện tích đất ngập nước đáng kể do đào ao nuôi tôm , khai khẩn than bùn , làm ruộng lúa… , làm thu hẹp và xáo trộn sinh cảnh sống của sếu.


chuye bình yên , Hòn Chông ( Kiên Giang ) dĩ vãng là vùng rừng phòng hộ với diện tích trên 3.000 ha , nay đã không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả bị xóa sổ , trở nên đất nuôi tôm. Vùng Lung Lớn ở Kiên Lương dĩ vãng là rừng phòng hộ hơn 5.000 ha , nay cũng bị chuyển đổi thành đất trồng lúa.


chung quanh Lung Lớn là chuye sếu tập trung sinh sống , 2 năm nay đã trở nên nơi khai khẩn than bùn…


Vùng sinh sống của sếu tại đồng cỏ bàng Phú Mỹ thì bị lấn chiếm để trồng lúa. Tại Vườn quốc gia Tràm Chim ( Đồng Tháp ) , một trong những nơi sống quan yếu nhất cho sếu ở ĐBSCL , việc quản lý hệ sinh thái tự nhiên 5 năm gần đây đã được cải thiện khá tốt nhưng sếu vẫn chưa quay lại nhiều.


Được biết , trước đó , đồng cỏ bàng Phú Mỹ có dự án bảo tồn do Hội Sếu quốc tế kết hợp với xứ sở thực hành đã hơn 10 năm tuy nhiên , hiện nơi này đang bị nhiều hộ dân chiếm đất để trồng lúa , nhiều người còn tìm mọi cách xua đuổi sếu.


Phú Mỹ chỉ là một nơi chốn có sếu trong tuốt chuye Hà Tiên - Kiên Lương. Những nơi khác do không có cơ chế bảo vệ nào , việc mất nơi sống của sếu còn diễn ra nhanh hơn.


Trước thực trạng sếu đầu đỏ hiếm dần ở Việt Nam , TS Trần Triết cho biết: " làm ra nông nghiệp luôn quan yếu nhưng bảo tồn đa dạng sinh học cũng quan yếu không kém.


 Việc bảo tồn tự nhiên cần được toan tính trên tài sở lợi ích cho toàn xã hội và lợi ích lâu dài cho nhiều thế hệ mai sau. Sếu đầu đỏ là loài đáng được coi trọng cao trong bảo tồn đa dạng sinh học. Đây còn là loài chim quý có nhiều tác phong đối với văn hóa - linh tính của người Việt. Ví như sếu không về Việt Nam thì hao hụt này rất lớn".


Lược theo báo Người cần lao

Thứ Năm, ngày 27 tháng 3 năm 2014

Truyền thông đa công cụ bắt đầu làm vua trong năm 2013


Theo Trung tâ m   Dự báo nhu cầu sức người và thông tin thị trường cần lao dự báo ngành truyền thông đa công cụ sẽ là một trong những nhóm ngành   hot   được quan hoài nhất trong năm.


Nhóm ngành đang thiếu sức người


Theo khảo sát trong quý I/2013 thì có 4.936 doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng thường xuyên với tổng số 50.349 chỗ việc làm trống;  21.957 người cần lao có nhu cầu tìm việc. Bây giờ } , thị trường {lao động|cần lao} cần số lượng rất lớn kỹ thuật {hòn|viên} , {nhân viên|viên chức|công chức} nghiệp vụ {Thấp|trình độ} cao đẳng và trung cấp.


Ông Trần Anh Tuấn , Phó giám đốc {trung tâm|trọng tâm} , cho biết: “Không chỉ ở {khu vực|khu vực ấn độ dương|lĩnh vực|khu vực|chuye} TP.HCM mà ở đâu cũng {vậy|vầy} , {nhân lực|sức người} thuộc các ngành nghề kỹ {thuật|phép|kể|tường thuật} , {dịch vụ|lao vụ|service} {luôn luôn|xoành xoạch} thiếu. Tại TP.HCM , trong năm 2013 , nhóm ngành   marketing   - {kinh doanh|kinh dinh} - bán hàng chiếm 27 , 08%nhu cầu {nhân lực|sức người}. Kế đó là nhóm ngành du lịch - nhà hàng - khách sạn - {dịch vụ|lao vụ|service} - {phục vụ|phục vụ người ốm} chiếm 19 , 92% , công nghệ {thông báo|thông cáo|thông tin|báo cáo} - điện tử - viễn thông chiếm 7 , 79%...”.


Truyền thông đa phương tiên {lên ngôi|bắt đầu làm vua} trong năm


Bảng so sánh nhu cầu {nhân lực|sức người} 8 nhóm ngành quý 3


Theo quy hoạch {phạt|phát|vạc}   tri ển {nhân lực|sức người} TP.HCM đến năm 2020 , TP.HCM ưu {nguyên phát|tiên phát} triển nguồn lao động cho những ngành có hàm lượng công nghệ cao , giá trị {gia tăng|Thêm lên|tăng thêm} cao , đảm bảo nhu cầu {nhân lực|sức người} chất lượng cao cho 4 ngành {Công lao|công nghiệp} chủ lực. Đó là cơ khí {chế tác|chế tạo} {chính xác|chuẩn xác|xác thực} - tự động hóa , điện tử - công nghệ {thông báo|thông cáo|thông tin|báo cáo} , chế biến thực phẩm theo hướng {tinh luyện|tinh chế} và hóa chất - hóa dược - mỹ phẩm. Trong {đấy|đó} , tổng số nhu cầu {nhân lực|sức người} {bình quân|đổ đồng} hằng năm là khoảng 270.000 thì các nhóm này chiếm 17% , khoảng 45.900 {lao động|cần lao}. Ông Trần Anh Tuấn nhấn {khoẻ|mạnh} , nhóm ngành công nghệ {thông báo|thông cáo|thông tin|báo cáo} ở đây gồm những chuyên ngành có tính “thời thượng” như thiết kế {Việc in|đồ họa} , truyền thông đa {phương tiện|công cụ} , lập trình… thì nhu cầu mới cao và mức lương mới {quyến rũ|hấp dẫn}.


Truyền thông đa {phương tiện|công cụ} là gì?


Truyền thông đa {phương tiện|công cụ} ( {thường|bình thường|hay|luôn|năng|thường xuyên}   Multimedia ) là việc {vận dụng|áp dụng|ứng dụng} công nghệ {thông báo|thông cáo|thông tin|báo cáo} trong việc sáng tạo , thiết kế những sản phẩm mang tính đa {phương tiện|công cụ} và tương tác {vận dụng|áp dụng|ứng dụng} trong các {lĩnh vực|khu vực|chuye} truyền thông , {quảng cáo|lăng xê} , giáo dục và {giải trí|tiêu khiển}.


Nghe có vẻ {phức tạp|Rắc rối|không đơn giản} nhưng hiểu một cách {đơn giản|giản đơn} đó là việc thiết kế {Việc in|đồ họa} , trò chơi điện {Sáu vị quan trọng|gồm: quân|thần|phụ|tử|phu} , làm hoạt hình 3D , thiết {chước|kế|mẹo}   web , làm phim , … {tất thảy|tất cả} đều {thực hiện|thực hành} trên máy tính.


Truyền thông đa {phương tiện|công cụ} là ngành


Và {Đại khái|hầu như} các sản phẩm truyền thông ( {quảng cáo|lăng xê} , truyền hình , Internet , … ) và {giải trí|tiêu khiển} {hiện đại|đương đại} ( game , {điện ảnh|nghệ thuật thứ bảy|phim ảnh} , hoạt hình , … ) bạn sử dụng {ngày nay|hiện tại|hiện nay|bây giờ} đều là sản phẩm của mỹ thuật đa {phương tiện|công cụ}.


{đơn giản|giản đơn} hơn bạn {có thể|có khả năng|có xác xuất} hiểu mỹ thuật đa {phương tiện|công cụ} là sự {phối hợp|kết hợp} giữa công nghệ thông   tin   và {nghệ thuật|đáp ứng các {Các quy định|chương trình|thời hạn|tiêu chuẩn} {thẩm mỹ|cảm biết cái đẹp} và sự nhạy cảm} , trong đó máy tính là một {phương tiện|công cụ} {cốt tử|chính yếu|chủ yếu|cốt yếu} cho việc sáng tạo của người nghệ sỹ.


“Hot” vì {công việc|nghề nghiệp} {thú|thích|thú vị|thú nhận} , lương cao


Truyền thông đa {phương tiện|công cụ} là 1 trong 5 nghề nóng nhất khi Việt Nam {tham gia|Tham dự|gia nhập} WTO. { Công việc| Công việc| Nghề nghiệp } } mang tính sáng tạo và {thú|thích|thú vị|thú nhận}. { Năm triều vua Trung Hoa| Gồm các triều Tống| Tề| Lương| Trần| Tùy } {trung bình|làng nhàng|nhàng nhàng} của 1 người làm trong {lĩnh vực|khu vực|chuye} truyền thông đa {phương tiện|công cụ} {trung bình|làng nhàng|nhàng nhàng} theo {thống kê|báo cáo|liệt kê|report} là 300USD/tháng và trên {thực tế|thực tiễn} {có thể|có khả năng|có xác xuất} nhiều hơn thế. Việt Nam {ngày nay|hiện tại|hiện nay|bây giờ} thiếu hơn 17.000 chuyên gia truyền thông đa {phương tiện|công cụ}


{dự định|dự kiến} nhu cầu {nhân lực|sức người} 12 nhóm ngành nghề {cuốn hút|lôi cuốn|thu hút} nhiều {lao động|cần lao} trong quý II/2013
























































STT


Tên ngành nghề


Cơ {cấu|bấu}


nhu cầu( % )


1


Marketing – {kinh doanh|kinh dinh} – Bán {dãy|dọc|hàng}


23 , 41


2


Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn – {dịch vụ|lao vụ|service} - {phục vụ|phục vụ người ốm}


11 , 43


3


Công nghệ {thông báo|thông cáo|thông tin|báo cáo} – Điện tử - Viễn thông


10 , 62


4


Quản lý - Hành chính – Giáo dục – Đào tạo


4 , 71


5


Dệt – May – Giày {như tai|mắt|mũi|lưỡi|da}


5 , 08


6


Tài chính - Kế toán – Kiểm toán - Đầu tư - {đình trệ|Ngưng lại|đình chỉ|bất động} sản - Chứng khoán


5 , 36


7


{tư vấn|tham vấn} - Bảo {hiểm|nguy hiểm}


2 , 49


8


Cơ khí – Luyện kim – Công nghệ {ô tô|ôtô}


4 , 30


9


Hóa – Y {Sáu lễ trong xã hội|gồm: quan|hôn|tang|tế} , {chăm chút|chăm nom|chăm sóc} sức khỏe


3 , 23


10


Xây dựng – {cấu trúc|kiến trúc} – {liên lạc|giao thông} {vận tải|chuyên chở|tải|vận chuyển}


2 , 36


11


Điện – Điện {Công lao|công nghiệp} – Điện {rét|lạnh}


1 , 99


12


Kho bãi - Vật tư - Xuất {nhập cảng|nhập khẩu}


1 , 16

Thứ Ba, ngày 14 tháng 1 năm 2014

Thận trọng trước một số tác hại của truyền thông mới


Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ số , ngày một nhiều các công cụ truyền thông mới sinh ra , và với ưu thế của nó , truyền thông mới đã len lách tới từng ngõ ngách của cuộc sống , phục vụ người ốm nhu cầu báo cáo đa dạng của các đối tượng bạn đọc khác nhau. Tuy nhiên bên mặt hăng hái , truyền thông mới cũng đưa tới một số nguy cơ , nếu người sử dụng không có sự thận trọng cần thiết. Thành thử , hẳn là có cơ sở để trên trang nhất tập san Courrier International ( từ 30-10 đến 6-11-2013 ) lại có một hàng tít lớn rằng "Google , Facebook , Apple... những kẻ tối tăm nhất của thế giới"?




Thế giới đang ngày một trở nên gần gụi hơn với sự sinh ra của công nghệ kỹ thuật số. Các hình thức email ( e-mail ) , ebook ( sách điện tử ) , elearning ( học qua mạng ) , ebusiness ( thương nghiệp điện tử ) , emarketing ( tiếp thị điện tử )... Hở và đang tạo ra nhiều thay đổi trong các tương giao và hoạt động xã hội. Theo trang tư liệu lịch sử mở Wikipedia , truyền thông mới là "thuật ngữ rộng trong nghiên cứu truyền thông hiện ra vào nửa sau thế kỷ 20. Một thí dụ là truyền thông mới cho phép người dùng truy nhập nội dung vào vô luận lúc nào , vô luận nơi đâu hay trên bất kỳ thiết bị số nào , cũng như cho phép người dùng tương tác và tham gia vào quá trình xây dựng nội dung truyền thông. Ðiều khiến truyền thông mới khác biệt so với truyền thông truyền thống là nội dung được chuyển hóa thành dạng dữ liệu số". Như vậy , truyền thông mới là một khái niệm được phát triển trên nền tảng công nghệ số và là một khái niệm rộng. Ðể dễ mường tượng về khái niệm này , có xác xuất liên tưởng đến các hình thức thông dụng của nó như các trang mạng xã hội: Facebook , twitter , blog... Hay là các loại hình tương tác khác như: đọc báo qua fone di động , chơi game trên máy tính , sách điện tử...


  Truyền thông mới phát triển trên nền tảng công nghệ số nên nó dễ dàng thay đổi tùy mức độ phát triển của loại công nghệ này. Và vì thế , truyền thông mới có xác xuất "biến hình" nhanh chóng , luôn là những thứ không quen với ( mới ) , và chúng ta luôn phải bắt đầu làm quen với nó. Nói một cách nôm na , truyền thông mới thoát khỏi giới hạn của các format truyền thông kiểu cũ như báo giấy , sách và tập san. Không chỉ phục vụ người ốm các nhu cầu báo cáo khác nhau , truyền thông mới còn góp phần phá vỡ khoảng cách về mặt địa lý và xã hội , làm cho sự cách trở về địa lý ít có tác động đến một điều gì đó tới các mối quan hệ xã hội hơn. Phê duyệt truyền thông mới , nhiều mối quan hệ kinh tế , chính trị , văn hóa , xã hội , ... Xuể thiết lập , bất chấp khoảng cách về thời kì và không gian. Một trong những phần ưu tú được cho là ngh ii của truyền thông mới là cho phép người sử dụng dân chủ hơn trong cách lựa chọn và công báo báo cáo. Khi đó , người sử dụng cũng đồng thời trở nên người "kể chuyện" hay nói cách khác là những nhà báo công dân. Thực tiễn là ngày một nhiều người tham gia vào màng lưới báo chí với nhân cách là "nhà báo công dân" khi họ là chủ thể cung cấp báo cáo cho báo chí. Thậm chí , họ còn giữ vai trò thu nhặt , xử lí và công báo nguồn tin trên những trang cá nhân chủ nghĩa của mình với nhiều mục đích khác nhau. Một bản dịch của dịch giả Phạm Khánh Hòa cho biết trong nhiều trường hợp , các công cụ truyền thông kiểu cũ phải nước phụ thuộc vào nguồn dữ liệu báo cáo của truyền thông mới. Truyền thông mới là tác nhân khởi nguồn và sẽ là nguồn báo cáo mới. Bản dịch dẫn chứng bằng một report trên tờ Le Monde ( Pháp ) về sự tăng thêm các blog khắp châu Âu nhằm đánh giá những xu hướng và quan điểm đang lên trong chuye. Ðiều này vừa thể hiện truyền thông mới không chỉ giúp người thường nhật có xác xuất tham gia vào hoạt động chính trị , văn hóa , kinh tế , xã hội , vừa có nghĩa rằng đối với nhiều người , cách đưa tin của các công cụ truyền thông truyền thống đã không còn là nguồn báo cáo quan yếu nhất.


 Không thể phủ nhận những mặt hăng hái mà truyền thông mới đã mang lại cho con người và tốt hơn trước của xã hội. Tuy nhiên , bên cạnh nhiều mặt hăng hái , vẫn còn có những băn khoăn về mặt trái của truyền thông mới. Tại Việt Nam , theo số liệu khảo sát của WeAreSocial - tổ chức nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội cả thế giới , tới tháng 12-2012 số người sử dụng internet ở Việt Nam là 30 , 8 triệu , chiếm 34% dân số ( mức nhàng nhàng của thế giới là 33% ). Và các số liệu khác cho thấy số người đăng kí sử dụng internet xếp Việt Nam đứng thứ ba tại Ðông - Nam Á , thứ 8 tại châu Á , đứng trong top 20 quốc gia , vùng cương vực có số người sử dụng internet nhiều nhất thế giới; số người sử dụng fone cao thứ bảy thế giới , số người sở hữu account mạng xã hội độc lập ( unique visitors ) lên đến hơn 13 triệu người. Các con số này phần nào cho thấy truyền thông mới đã và sẽ thịnh hành , phát triển ở Việt Nam trong vài năm tới. Ðó là chưa kể , ngày một nhiều người Việt Nam , đặc biệt là người trẻ có xu hướng ưa thích sử dụng các thiết bị công nghệ cao như: các loại fone sáng ý , ipad , máy tính bảng , ... Vì chưng những thiết bị này cho phép người sử dụng ở thể trạng "kết nối và trực tuyến" mọi lúc mọi nơi.


 Tuy nhiên , sự tăng thêm của các công cụ truyền thông công dân như vậy lại làm tăng thêm nỗi lo ngại về tính xác thực , cuộc giải trí lành mạnh của các báo cáo được cung cấp từ các phương thức truyền thông mới , đặc biệt là từ các trang cá nhân chủ nghĩa. Thiết nghĩ , truyền thông mới , bản thân nó là một khái niệm không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào và không ngừng chuyển biến. Vì thế , nó trở nên tốt hay xấu là nước phụ thuộc vào mục đích và cách thức của mỗi cá nhân chủ nghĩa sử dụng. Trên thực tiễn chúng ta đã được chứng kiến việc nhiều người sử dụng mạng xã hội tỏ ra thiếu bổn phận khi cung cấp những báo cáo sai sự thật , do họ không dành thời kì kiểm định tính xác thực của báo cáo trước khi công báo. Bên cạnh báo cáo sai sự thật là những báo cáo , trò chơi thiếu cuộc giải trí lành mạnh , nhiều tính bạo lực , khiêu dâm... Chưa kể một số không nhỏ người sử dụng mạng xã hội nhằm cập nhật nhiều báo cáo không khách quan , thậm chí mang đậm phiến diện cá nhân chủ nghĩa. Những người sử dụng khác , nếu không có sự chọn lựa và thận trọng trước các báo cáo kiểu như vậy , sẽ không tránh khỏi những cách nhìn lệch lạc về nhiều vấn đề kinh tế , chính trị , xã hội. Tai hại hơn , sự phát triển nở rộ và thịnh hành truyền thông mới nhìn chung và của mạng xã hội nói riêng không ý thức có xác xuất sẽ trở nên công cụ đắc lực góp phần làm phát sinh các nguy cơ đối với an ninh , chính trị , xã hội và có tác động đến một điều gì đó thụ động đến cá nhân chủ nghĩa người sử dụng , nhất là những người trẻ tuổi.


 Cần tự tin tuyên bố rằng , việc phát triển truyền thông mới là cần thiết , nhưng song hành với phát triển phải có sự quản lý , định hướng của các cơ quan công năng đối với người sử dụng để khai khẩn truyền thông mới một cách có hiệu quả và chất lượng cao hơn mức bình thường ích thiết thực cuộc giải trí lành mạnh. Vì thế , để tránh được những lệch lạc khi sử dụng các loại hình truyền thông mới , vấn đề không chỉ ở bản lãnh , trình độ của cá nhân chủ nghĩa người sử dụng mà một mặt còn nằm ở phía các nhà quản lý. Có một nghịch lý rằng rỏ rành truyền thông mới không phải là một khái niệm mới nhưng trên thực tiễn , vấn đề quản lý các loại hình truyền thông mới , đặc biệt là các trang mạng xã hội và blog cá nhân chủ nghĩa tại Việt Nam chưa thực sự chặt và còn nhiều bất cập. Hưng thịnh quốc gia trên thế giới đã có nhiều phương pháp hiệu quả trong quản lý mạng xã hội cũng như internet. Ở Mỹ , Cục Ðiều tra liên bang ( FBI ) đã thành lập một lực lượng có tên trọng tâm trợ giúp truyền thông nội địa với nhiệm vụ phát triển các công nghệ có xác xuất kiểm soát báo cáo trên internet cũng như các giao thông bằng fone di động. Trong khi đó , tại Hàn Quốc , chính phủ đã đóng cửa rất nhiều trang web có nội dung phản đối thực hành đi bộ đội nghĩa vụ , quyền đồng dục , những bài viết khuyết điểm nhằm chê trách phê phán Tổng thống... Ðể gửi bài viết hay các bình phẩm lên mạng , người sử dụng tại Hàn Quốc buộc phải cung cấp số chứng minh quần chúng. Thậm chí , tại quốc gia này , nếu bị phát hiện bình phẩm giấu tên trên các blog có hơn 10 nghìn người đọc có xác xuất sẽ bị phạt tù lên tới 5 năm... 


 Ở Việt Nam , ngày 15-7 vừa qua , Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2013/NÐ-CP về quản lý , cung cấp , sử dụng service internet và báo cáo trên mạng. Nghị định này sẽ thay thế Nghị định 97/2008/NÐ-CP ngày 28-8-2008 của Chính phủ về quản lý , cung cấp , sử dụng service internet và báo cáo điện tử trên internet. Nghị định 72/2013/NÐ-CP quy định một số hành vi bị nghiêm cấm như: Lợi dụng việc cung cấp , sử dụng service internet và báo cáo trên mạng nhằm mục đích chống lại quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia , trật tự không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro xã hội; phá hoại khối đại kết đoàn dân tộc; tuyên truyền chiến tranh , khủng bố; gây thù hận , mâu thuẫn giữa các dân tộc , sắc tộc , tôn giáo; tuyên truyền , khích động bạo lực , dâm tính , đồi trụy , tội ác , tồi xã hội , mê tín dị đoan , phá hoại thuần phong , phong tục tốt của dân tộc;... Ngoại giả , Nghị định cũng tăng cường phát triển và quản lý nội dung các loại hình báo cáo trên mạng phê duyệt các phương pháp cấp phép thiết lập trang báo cáo điện tử tổng hợp , mạng xã hội; tăng cường quản lý trò chơi điện tử trên mạng... Chúng ta có xác xuất mong mỏi , với Nghị định mới này , những người sử dụng sẽ phần nào tránh được một số tác động thụ động từ truyền thông mới , nhất là từ các báo cáo thiếu cuộc giải trí lành mạnh trên mạng xã hội và các trang cá nhân chủ nghĩa , ... Để truyền thông mới sẽ xoành xoạch là một "người bạn tốt" của mọi người trong đời sống hiện đại.



hoàng anh

Thứ Tư, ngày 08 tháng 1 năm 2014

Quảng cáo Google Adwords là gì?

Google là phương tiện tìm số 1 thế giới , cuốn hút hàng tỷ lượt tìm Ngày ngày. Ngoài tính năng tìm web cơ bản , Google Search còn cung cấp 22 dịch vụ miễn phí khác và khiến người sử dụng thật sự bằng lòng về những dịch vụ này. Chính nhờ tính ưu việt của hệ thống tìm , quảng cáo trên Google thật sự quyến rũ các khách hàng và trở thành cầu nối đưa các thông báo sản phẩm tới khách hàng tiềm năng một cách chóng vánh nhất.


Google Adwords là gì?


Adwordslà dịch vụ khai thác quảng cáo của Google thực hiện trên phương tiện tìmkiếm và các website trong hệ thống liên kết. Adwords đem lại hơn 90%lợi nhuận cho Google Inc và là nguồn thu chính của tập đoàn.


Googlecung cấp giải pháp quảng cáo tài trợ Adwords cho khách hàng theo phươngthức Pay per Click ( trả tiền theo mỗi lượt nhấp chuột ) với 3 hình thức chính:


·          quảng cáo từ khóa trên phương tiện tìm


·          quảng cáo từ khóa trên các websites


·          quảng cáo banner trên các websites


Thôngđiệp quảng cáo của khách hàng sẽ được hiển thị bên phải hoặc đôi khiphía trên các Cuối cùng tìm đối với phương thức quảng cáo trên côngcụ tìm kiếm.
Thông điệp hoặc banner quảng cáo của khách hàng đượchiển thị tại nhiều vị trí trên các website liên kết với phương thứcquảng cáo trên website Publishers.


quảng cáo Google Adwords ưu việt nhờ khả năng “hiểu biết” quảng cáo , xác định đúng nhóm đốitượng quan tâm tới quảng cáo song song có nhiều tùy biến giúp kháchhàng tối ưu hóa quảng cáo và chi phí:


·          Hiển thị quảng cáo trong các thời đoạn khăng khăng


·          Hiển thị thông điệp quảng cáo theo đúng từ khóa tuyển trạch


·          Hiển thị quảng cáo theo khu vực , nhà nước hay thậm chí toàn cầu.


·          chỉ tiêu ngân sách quảng cáo theo ngày , theo giai đoạn.


Chínhnhờ khả năng tùy biến quảng cáo cực kỳ Nhanh nhẹn , Google Adwords là sựlựa chọn hàng đầu trong các chiến dịch quảng cáo , giúp cho các doanhnghiệp có thể định hướng khách hàng cực kỳ hiệu quả.


Các bí ẩn phía sau Adwords


1. Bán đấu giá từ khóa ( Vickrey Auction ):


GoogleAdwords yêu cầu khách hàng phải bán đấu giá để xác định vị trí hiển thị củatừ khóa theo nguyên tắc bán đấu giá Vickrey nhưng giữ bí ẩn giá của cácđối thủ:


·          Các khách hàng phải đặt mức giá lớn hơn giá sàn ( thường là 5 cent/click )


·          Khách hàng A , B , C có thể đặt mức giá tối đa họ trả là a , b , c.


·          Nếub > a > c > 5 cent thì mức giá B phải trả để có vị trí caonhất là a + 1 cent/click , A sẽ trả cho vị trí thứ 2 là c + 1 cent/clickvà C chỉ phải trả 5 cent vì đứng cuối cùng.


·          A có thể điều chỉnh giá để được đứng trên B , và nếu vượt A chỉ phải trả b + 1 cent/click.


bán đấu giá Vickrey sẽ kích thích khách hàng dự khán bán đấu giá để chiếm được vị trí cao nhất và giá của từ khóa càng hot sẽ càng cao.


2. Tham số chất lượng website ( The Quality Score ):


Để“chiến thắng” trong cuộc bán đấu giá , việc đặt giá cao là chưa đủ , một thamsố quan trọng khác đó Ấy là chất lượng website và Google coi đó làđiều kiện buộc để các nhà quảng cáo có một mức giá ưu tú. Websitesẽ giảm được đáng kể chi phí Adwords nếu thỏa mãn các điều kiện về chấtlượng sau:


·          Nội dung website phải phù hợp với nội dung và thông điệp quảng cáo.


·          Tỷ lệ người click để ghé thăm web cao ( Click-Through Rate )


·          Chất lượng website tốt ( nội dung , lượng truy cập , số trang được quan tâm… )


·          Tốc độ hiển thị trang web nhanh.


·          Có vị trí địa lý phù hợp.


·          Và còn nhiều tham số khác nữa.


Thamsố chất lượng dựa trên các thuật toán tối ưu hóa tìm của Google vàtham số này nhằm bảo đảm chất lượng quảng cáo trên Google là chính xácnhất. Nếu website không được tối ưu hóa , khách hàng có thể phải chịucác chi phí tu bổ khi dự khán Adwords:


·          Phải trả mức giá sàn cao hơn các đối thủ.


·          Phải trả chi phí tu bổ do chất lượng quảng cáo thấp.


·          quảng cáo bất tất đã được hiển thị trên Cuối cùng tìm kiếm.


3. Làm thế nào để tối ưu chi phí và công hiệu quảng cáo Google Adwords?


Dưới đây là một số phương án giúp bạn tối ưu hóa chi phí và hiệu quả:


·          Đừng tranh đua vị trí dẫn đầu bởi đó là vị trí tốn kém nhất. Thay vào đó hãy tính tới yếu tố hiệu quả.


·          Hãy tuyển trạch từ khóa dài và phù hợp , đừng chọn những từ quá ngắn và nghĩa quá rộng.


·          Hãy hiển thị các thông điệp quảng cáo khác nhau với các từ khóa khác nhau.


·          Hãy thông qua các công ty có uy tín để tư vấn tối ưu hóa website cho bạn.


·          Hãy định ngân sách hợp lý , xác định thời gian , khu vực hiển thị quảng cáo để bảo đảm công hiệu tốt nhất.


·          Hãy để ý tới các quảng cáo của đối thủ và làm cho quảng cáo của bạn thật ấn tượng.


Để bắt đầu chiến dịch Adwords của bạn , hãy liên hệ với TÁO ĐỎ để chúng tôi có thể giúp bạn tối ưu hóa công hiệu quảng cáo.

Thứ Ba, ngày 07 tháng 1 năm 2014

Marketing Online

ngày nay , với sự phát triển của internet đã Cởi ra những cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế giới , và vai trò của marketing trực tuyến ngày càng quan trọng. Vậy làm thế nào để marketing trực tuyến một cách công hiệu và Thành tựu nhất? Dưới đây là những hướng dẫn về những điều nên làm và không nên làm khi thực hiện marketing trực tuyến.Những điều nên làm khi thực hiện marketing trực tuyến. Theo dõi công hiệu của các chiến xích
công việc này đòi hỏi phải tiến hành điều tra khách hàng để biết được thông tin: nơi mà họ lần đầu nghe nói về site - có thể là qua một phương tiện tìm , một tạp chí hoặc biết đến website và sản phẩm qua một website khác , một bài báo đã xuất bản , qua Các quy định quảng cáo banner , hay quảng cáo phân loại.

Nếu đang khởi động một chiến dịch quảng cáo , cần phải có các Các quy định theo dõi để biết loại hình quảng cáo nào đang hoạt động tốt ( ví dụ: banner , quảng cáo , tài trợ , bản tin ) , và loại hình quảng cáo nào đã đem lại tỷ lệ kích chuột cao nhất. Cần phải cân nhắc cẩn trọng khi tuyển trạch các phương tiện quảng cáo và tập kết vào các chiến dịch thật sự bổ ích cho hoạt động kinh doanh.

liên tục marketing hoạt động kinh doanh.
Để Thành tựu trên Internet , điều quan trọng phải dành thời gian để làm một điều gì đó truyền bá cho hoạt động kinh doanh hàng ngày. Nên dành ít nhất 2 giờ Ngày ngày cho hoạt động marketing , có thể đăng ký các trang lên các phương tiện tìm , đăng các câu trả lời lên trên các bản tin và các nhóm tin , gửi các bài báo đến các xuất bản phẩm trong các tạp chí điện tử nếu có thể , hay liên kết với các thương gia trực tuyến khác.

Phân biệt sự khác nhau giữa marketing và bán hàng
Marketing là để cho các khách hàng tiềm năng biết và hướng họ truy cập vào site. Nói theo ngôn ngữ Internet , nó còn được gọi là "getting the eyeballs". Tuy nhiên , bán hàng lại là một công việc tuyệt đối khác. Nó xoay quanh chất lượng của sản phẩm cung cấp , tính quyến rũ của các thư chào hàng trên website , tính đơn giản trong khâu thanh toán , và cái nhìn tổng quan về website.

Không nên chỉ dừng lại ở giao diện bên ngoài website , luôn luôn theo dõi và thẩm tra website đã thật sự có được khả năng cuốn hút và lôi kéo khách truy cập mua hàng chưa?
Những điều không nên làm.

Tính tự đắc và kiêu ngạo
Các thương gia trực tuyến đều mắc phải một sai lầm trong suy nghĩ của họ rằng ngay khi họ xây dựng xong website của họ , khách hàng sẽ tự động đến. Đó là một suy nghĩ tuyệt đối sai lầm. Một sai lầm lớn nhất trên Internet.

Đừng bao giờ để mắc phải sai lầm này: đừng chờ đợi khách hàng đến với site theo thể cách truyền miệng. Phải tạo ra lời truyền miệng đó , có thể Thành tựu với một sự gắng gỏl và nỗ lực marketing liên tục , thường
xuyên.

Chất lượng website thấp
Đầu tư nhiều tiền để mua không gian quảng cáo banner , các bản tin phân loại , hay các từ khoá tìm. Nhưng khi các khách hàng tiềm năng truy cập vào website , họ không được thoả mãn: thời gian tải lâu , nội dung thư chào hàng cẩu thả , các lỗi ngữ pháp , layout không chuyên nghiệp , và quy trình mua hàng phức tạp.

Nếu khách hàng biết được nhiều nhược điểm đó , tỷ lệ khách hàng sẽ mua hàng giảm. Con số lý tưởng mà khách hàng trông chờ khi truy cập vào website là: họ có thể vào được website trong vòng 8 giây.

Gửi email không được yêu cầu
Nhiều người khi mới bắt đầu thực hiện marketing trực tuyến , đã mắc phải sai lầm khi gửi các email không được yêu cầu , hay được biết đến phổ biến là hình thức spam , để truyền bá cho hoạt động kinh doanh của họ. Họ đã từng bị dụ dỗ bằng những lời hứa hư ngụy từ những người bán các danh sách Tấm giấy ghi tên tuổi email rằng danh sách đó là danh sách "opt-in" có tức là tất thảy đều chấp nhận email từ những nhà hoạt động marketing.

Đó là một phương tiện marketing tuyệt đối không hiệu quả: hầu hết người nhận sẽ xóa , thậm chí tồi tệ hơn họ còn kêu ca với ISP và máy chủ web của các nhà marketing yêu cầu ngừng hoạt động account đó. Thay vì có được khách hàng truy cập như mong muốn ban đầu , hòm thư sẽ trở thành quá tải vì những email giận dữ và chỉ trích và những yêu cầu rút khỏi danh sách gửi email.

Và việc nhận được những email có nội dung như thế sẽ trở thành khó khăn hơn , thậm chí yêu cầu ngừng hoạt động của account. Quả là một công việc lãng phí thời gian và nguồn lực

Thứ Hai, ngày 06 tháng 1 năm 2014

Truyền thông Marketing là gì?

Nhằm có thể Đạt tới mục tiêu kinh doanh trên thị trường , có một sản phẩm tốt không thôi chưa đủ , doanh nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu của minh thành một thương hiệu được khách hàng ưa chuộng.









Để Đạt tới điều nầy , doanh nghiệp cần phải truyền thông với thị trường để khách hàng biết những tính năng vận dụng , tính ưu việt và ích lợi của sản phẩm mình. Ngoài ra , doanh nghiệp còn cần phải xây dựng mối giao tiếp với khách hàng và duy trì cũng cố mối giao tiếp nầy. Vì những yêu cầu trên , doanh nghiệp cần có một chiến lược truyền thông marketing.

Có nhiều hình thức truyền thông marketing khác nhau. Doanh nghiệp có thể truyền thông một cách trực tiếp , mặt đối mặt , sử dụng hàng ngũ bán hàng , hoặc thông qua trung tâm dịch vụ điện thoại , hoặc một cách gián tiếp , sử dụng quảng cáo , hoạt động xúc tiến thương mại , truyền thông điện tử , hoặc là các vật dụng chưng bày tại điểm bán hàng.  

yếu tố chọn phương tiện truyền thông marketing nên dựa trên nguyên tắc phương tiện nào giúp doanh nghiệp Đạt tới mục tiêu một cách có công hiệu kinh tế nhất , cụ thể là phương tiện nào mang lại công hiệu cao nhất trên cùng một khoảng chi phí bỏ ra.
Các hình thức truyền thông khác nhau.  

Trên thực tế doanh nghiệp có nhiều phương thức Đa chủng trong việc truyền thông với khách hàng , nhưng vẫn có thể phân biệt được thành hai loại chính:
Truyền thông phi cá thể , chẳng hạn quảng cáo , vật dụng chưng bày tại điểm bán hàng , xúc tiến bán hàng , truyền thông điện tử và giao tiếp công đồng.  

Truyền thông cá thể ( trực tiếp đối mặt ) , cụ thể là tiếp kiến trực tiếp giữa nhân viên bán hàng và khách hàng , chẳng hạn như bán trực tiếp hoặc trung tâm dịch vụ điện thoại.

cho nên có thể nói có khá nhiều hình thức truyền thông để doanh nghiệp tuyển trạch , họ có thể sử dụng đơn độc một loại , hoặc sử dụng một tập hợp nhiều kỹ thuật cùng một lúc , nếu nhu yếu , để Đạt tới công hiệu tối đa trong khả năng ngân sách hạn hẹp.

quảng cáo là một phương thức phổ biến về truyền thông phi cá thể , sử dụng những phương tiện truyền thông như báo chí , truyền hình , truyền thanh , bảng quảng cáo , tờ poster v.v. Tuy nhiên vẫn có nhiều Sự tình cần phải xem xét cẩn thận trước khi đưa ra quyết định tiêu cho việc quảng cáo.  

chẳng hạn như có nhiều người tuy là quảng cáo là lãng phí , chi phí tiêu dùng vào phương tiện truyền thông có thể mang lại công hiệu hơn nếu dùng vào việc bán hàng thông qua tiếp kiến cá nhân.

vì thế Sự tình là làm thế nào để xác định chiến lược truyền thông hỗn tạp thích hợp.

Theo Marketing chiến lược

Chủ Nhật, ngày 05 tháng 1 năm 2014

Nguyên tắc 4P trong MArketing

Marketing được hiểu như là các khuyến mãi trong sản phẩm , đặc biệt hơn là quảng cáo và Làm nên thương hiệu. Tuy nhiên , marketing có nghĩa rộng hơn đó là lấy khách hàng làm trọng điểm. Các sản phẩm hàng hóa sẽ được phát triển để đáp tương ứng mong mỏi của các nhóm khách hàng khác nhau , và ngay cả trong một vài trường hợp , chỉ một nhóm khách hàng chuyên biệt. E. Jerome McCarthy phân loại marketing vào 4 nhóm hoạt động cơ bản đã trở thành vô cùng phổ quát , bao gồm:


    Product ( Sản phẩm hàng hóa ): Sản phẩm gồm những thứ hữu hình có khả năng sờ mó được ( tangible ) như là đèn , quạt , cửa... Hoặc vô hình không sờ được ( intangible ) như là lao vụ. Diện mạo của sản phẩm marketing bao gồm các chi tiết đặc điểm của một loại hình sản phẩm hoặc lao vụ chuyên biệt và làm cách nào nó liên đái đến nhu cầu và sự nhu yếu đến người dùng sau cuối. Phạm vi của một sản phẩm thường bao giốc cấp các thành phần cộng thêm như bảo hành , và các lao vụ khác.
    Pricing ( Định giá ): là tiến trình để đi đến việc định giá cho một sản phẩm , gồm cả việc bán giảm giá , hạ giá. Không một mực phải là tiền mặt không thôi , nó có khả năng là bất kỳ thứ gì có khả năng đem ra trao đổi cho một sản phẩm hay lao vụ. Ví dụ: thời gian hay sự quan tâm.
    Placement hay distribution ( Vị trí - Phân phối ): là việc mần răng cho sản phẩm đến được với khách hàng. Ví dụ như vịt cỏ điểm bán có thuận lợi cho khách mua hàng hay không , vịt cỏ sản phẩm có thuận lợi lọt vào tầm mắt của khách hay không... Đôi khi nó còn có nghĩa là kênh phân phối mà sản phẩm hay hàng hóa được bán ra. Ví dụ bán trên mạng hay bán ở các cửa hàng sỉ , cửa hàng lẻ... bán ở tỉnh hay thành phố bán cho nhóm đối tượng nào ( thanh niên , Nhà ở , hay doanh nhân ).
    Promotion ( khuyến mãi ): Bao gồm cả quảng cáo , bán giá khuyến khích , làm cho Quần chúng Đoái đến , bán riêng cho khách và liên quan đến nhiều biện pháp trong việc đánh bóng sản phẩm , thương hiệu hoặc công ty.


Một nhà tiếp thị có khả năng dùng những thuộc tính ấy để Làm nên nên một kế hoạch marketing hoàn chỉnh. Mẫu 4Ps này có áp dụng công hiệu nhất khi marketing cho các giá trị tiêu thụ hàng hóa thấp. Đối với sản phẩm Công lao , lao vụ , sản phẩm tiêu dùng giá trị cao cần có thêm các sửa đổi cho mô hình này. Bởi chưng mỗi môi trường marketing khác nhau , có các tốc độ thiên nhiên về giao dịch và sản phẩm khác nhau. Marketing lao vụ thì cần phải có tạo ra Giá tiền một phẩm vật chuyên biệt. Marketing cho Công lao , hay B2B , thì cần phải có bản hợp đồng dài hạn mà cần dồi dào yếu tố kỹ thuật và chuyên biệt cho nhóm sản phẩm này. Marketing mối giao tế ( relationship marketing ) thì phải nhìn về hướng thiết lập mối liên kết lâu dài hơn là các bản hợp đồng cá nhân.